Author Topic: THIẾT CHẨN - P3  (Read 800 times)

lenien

  • Guest
THIẾT CHẨN - P3
« on: May 18, 2007, 12:27:58 PM »
5. Những điểm cần chú ý khi chẩn mạch
a. Mạch trên lâm sàng thường là kiêm mạch, người chỉ có một mạch tượng thường rất hiếm. Tình huống nói chung có 3 loại:
- Một mạch tượng đơn độc xuất hiện.
- Hai, ba mạch tượng cùng xuất hiện: như phù sác, phù khẩn, trầm trì, trầm huyền, trầm tế, tế sác, hoạt sác...
- Chủ bệnh của kiêm mạch tương đương với tổng hợp chủ bệnh của các mạch. Vì dụ:
Trầm chủ lý, trì chủ hàn, là lý hàn thì trầm trì.
- Bệnh mạch đơn độc xuất hiện ở một bộ mạch, như đau đầu thường thấy riêng thốn bộ mạch phù, còn lại bình thường.
Trên quan hệ giữa mạch và bệnh, cũng có khi 1 mạch chủ nhiều bệnh, hoặc một bệnh
thấy mấy mạch khác nhau, như mạch huyền chủ về đau, phong, sốt rét (chứng ngược).
Lại như chứng hàn có thể thấy mạch trì hoặc mạch khẩn.
b. Trong cái thường có cái biến. Mạch tượng bình thường là mạch hoãn, một nhịp thở từ 4 - 5 mạch đập, không nổi, không chìm, đều đều hòa hoãn. Đây chỉ là tương đối vì trong cơ thể, do ngoại cảnh ảnh hưởng cũng xảy ra một số biến động sinh lý, như sau bữa ăn mạch rất khỏe; sau khi vận động mạnh, mạch thường hồng sác; sau khi uống rượu mạch thường sác; sau khi đi xa mạch thường rất nhanh (cấp tật). Người lao động mạch to và
khỏe (đại, hữu lực). Vận động viên mạch thường trì (chậm). Người béo mạch thường trầm tế; người gầy mạch phù đại (nổi, to). Phụ nữ mạch nhỏ yếu (tế nhược), lúc hành kinh mạch tay trái quan bộ, xích bộ chuyển sang hồng (to mà tràn như lụt). Trẻ em mạch sác, nhuyễn (nhanh, mềm), dưới 5 tuổi, một nhịp thở 6 mạch đập là bình thường.
Người già mạch thường cứng. Có người do cấu tạo giải phẫu lạ nên động mạch ở sau cổ tay, phía mu tay, gọi là "phản quan mạch". Khi bắt mạch mà thấy mạch chuyển trầm tế khác thường hoặc không thấy mạch thì kịp thời nghĩ đến "phản quan mạch".
Mạch thường và mạch bệnh khác nhau ở 3 mặt: vị, thần, căn.
- Mạch không phù, không trầm, đều đều hòa hoãn là có vị khí.
- Mạch đến mềm đều mà trong có sức là có thần.
- Mạch trầm thủ (ấn nặng tay) vẫn rõ ràng là có căn.
Phàm mạch có Vị, Thần, Căn là mạch khỏe mạnh. Khi bệnh rất nặng mà cũng thấy vị,
thần, căn là báo hiệu tình trạng bệnh phát triển tốt lên.
c. Khái quát các yếu tố chính
Chấp nhận giản tiện, giảm bớt rườm rà. 28 mạch tượng là kinh nghiệm tổng kết lâu dài
trong thực tiễn của Đông y, để tiện việc học tập, cần khái quát lại như sau:
- Trên đại thể, nhận thức được như thế này là do vị trí, tốc độ, hình thái, quy luật của
mạch quyết định:
+ Vị trí: Trầm, phù.
+ Tốc độ: Trì, sác.
+ Cường độ: Hư, thực.
+ Hình thái: Huyền, hoạt, hồng, tế, sáp, khẩn.
+ Quy luật (tiết luật): Súc, kết, đại.
- Theo bát cương biện chứng mà nghiên cứu chủ bệnh của mạch:
+ Phù = biểu.
+ Trầm = lý
+ Sác = nhiệt.
+ Trì = hàn.
+ Hữu lực = thực.
+ Vô lực = hư.
Thông qua 6 loại mạch tượng được phân biệt, mà có thể phân giải tình trạng của 2 mặt
chính tà.
d. Hợp cả mạch và chứng mà tham khảo: Mạch và chứng tương ứng là quy luật nói chung, nhưng ở một số trường hợp cũng xảy ra hiện tượng mạch và chứng không nhất trí, lúc này phải phân tích toàn diện mà bỏ giả, giữ thật, tìm lấy bản chất mà phán đoán, như bệnh viêm ruột thừa, chứng trạng biểu hiện cơ bản đã hết,nhưng mạch lại sác, thường là dấu hiệu chứng viêm chưa hoàn toàn hết, lúc này nên cho qua chứng mà theo mạch, không nên ngừng chữa để đề phòng tái phát. Lại như sau khi ỉa chảy quá nhiều, mất máu nhiều mà mạch (ngược lại) thấy hồng, lúc này nên bỏ mạch mà theo chứng để tránh sự nhầm lấn trong cách chữa, gây nên tai biến nhanh chóng. Có khi chứng chưa thấy đã thấy mạch biến trước, lúc này mạch tượng có thể làm căn cứ cho chẩn đoán thời kỳ bắt đầu khỏi bệnh. Như bệnh ngoại cảm ở thời kỳ bắt đầu là mạch phù, dần dần xuất hiện các chứng khác nữa.
6. Một số tài liệu hiện đại nghiên cứu về mạch tượng
Có người dùng máy ghi chuyển động mạch bộ, ghi được 15 loại mạch tượng khác nhau. Kết quả ghi máy và bắt mạch cơ bản nhất trí, như mạch  phù ở tình huống không gia ngoại áp (tương đương bắt mạch trầm thủ) sóng mạch ngược lại giảm thấp. Ở mạch trầm, ngược lại, không gia ngoại áp, thì không ghi được hình sóng, cần gia ngoại áp tương đương mới ghi ra đường sóng gấp. Mạch hồng, đặc điểm của đường gấp là sóng phó đặc biệt cao; sóng chủ đẩy thẳng lên rất nhanh hạ xuống thấp, tương đương với đến thịnh đi suy của mạch hồng.
Đặc điểm hình sóng của mạch huyền là sau khi sóng chủ dấy lên duỗi ra một thời gian ngắn rồi mới hạ xuống, làm cho đỉnh điểm sóng chủ bằng ngang, tương đương khi bắt mạch thấy dưới tay như có sợi dây đàn kéo căng, các mạch khác như: Trì, Sác, Hoạt, Sáp, Khẩn, Tế, Đại... ở những bảng ghi đã được phản ánh các đặc điểm khác nhau.
Gần đây, theo những nguyên lý sản sinh ra mạch tượng cũng đã tích luỹ được một số tài liệu.
Tâm chuyển xuất lượng của mạch phù là tăng thêm, mà đàn tính trở lực của huyết quản lại giảm thấp. Ở điện tâm đồ cho thấy:
- Mạch trầm: điện áp giảm xuống
- Mạch trì: Thực tính tâm động quá chậm.
- Mạch sác: Thực tính tâm động quá nhanh.
- Mạch hư, nhược, vô lực, đa số do chuyển huyết lượng giảm ít, huyết quản trở lực giảm thấp, huyết áp rất thấp.
- Mạch nhược: Điện áp giảm thấp.
- Mạch tế mà có lực, phần nhiều là huyết quản trở lực tăng cao mà tâm chuyển huyết
lượng giảm ít.
- Mạch huyền: Đại đa số là tâm chuyển huyết lượng và huyết quản trở lực đều tăng cao, nhưng huyết áp tăng cao chỉ chiểm số nửa. Do đó ta thấy nhân tố hình thành mạch huyền rất phức tạp.
- Mạch có sức không nhất định là huyết áp tăng cao.
- Mạch súc, kết, đại chủ yếu là bệnh biến của bản thân tâm tạng làm thành (các hình thái của loạn nhịp tim).
Ở người bệnh khác nhau: Kết mạch trên điện tâm đồ thường xuất hiện 4 loại biến hóa:
Phòng tính co rút thời kỳ đầu, tâm phòng run rẩy, thất tính co rút thời kỳ đầu; và hoàn toàn tính đường chuyển phòng thất ứ trệ. Mạch đại hoặc có tâm phòng run rẩy, hoặc có thất tính co rút thời kỳ đầu, hoặc có ống chia đường chuyển phòng thất trở ngại. Mạch súc lại kiêm có tim đập quá nhanh.
B. Sờ nắn (xúc chẩn)
Xúc chẩn chủ yếu sờ nắn ngực bụng để thấy mềm, cứng, có đau hay không, có hòn cục hay không; sờ nắn tứ chi để xem có gẫy xương, bong gân hay không; sờ nắn da xem mát hay nóng; sờ nắn kinh mạch xem có phản ứng bệnh lý hay không.
- Sờ bụng để chẩn về bụng đau:
+ Sờ mà giảm đau là chứng hư.
+ Sờ mà đau tăng là chứng thực.
+ Nơi đau mềm mại là chứng hư.
+ Nơi đau cứng rắn là chứng thực.
- Sờ da để chẩn, chủ yếu xem độ ấm của da:
+ Mu bàn tay nóng hơn là ngoại cảm phát sốt.
+ Lòng bàn tay, bàn chân nóng hơn là âm hư, nội nhiệt.
+ Tứ chi lạnh là dương hư.
+ Trẻ em sốt cao mà đầu ngón tay lạnh có thể co giật.
+ Khi ỉa chảy mà mạch tế nhược, chi lạnh là ỉa chảy rất khó cầm, chân tay ấm áp thì ỉa
chảy rất dễ cầm.
- Sờ nắn kinh lạc: Là sờ ấn các huyệt trên kinh lạc, để tìm điểm phản ứng bệnh lý, theo phương pháp chẩn đoán trị liệu của kinh lạc ở phép châm cứu đã nói rõ.

« Last Edit: July 23, 2007, 07:52:32 AM by lenien »