Author Topic: THIẾT CHẨN -P1  (Read 1052 times)

lenien

  • Guest
THIẾT CHẨN -P1
« on: May 18, 2007, 12:34:43 PM »
THIẾT CHẨN (BẮT MẠCH VÀ SỜ NẮN)
A. Bắt mạch (mạch chẩn)
Nhận biết và phân biệt mạch tượng trong Đông y là vô cùng tỷ mỷ.
Tất tả chia ra 28 loại mạch tượng, làm thành một mặt trọng yếu của chẩn đoán lâm sàng.
1. Phương pháp bắt mạch.
Thông thường tiến hành ở động mạch quay cổ tay, phía lòng bàn tay (gọi là mạch thốn khẩu)
 Loạn động mạch này chia làm 3 khâu gọi là Thốn bộ, Quan bộ, xích bộ. Ngang chỗ xươngquay lồi ra là quan bộ, dưới Quan là Thốn, trên Quan là Xích. Trước khi bắt mạch, yêu cầu người bệnh ở tư thế thoải mái, tinh thần bình tĩnh (người bệnh vừa vận động yểu cầu nghỉ ngơi một lúc rồi mới chẩn mạch). Khi chẩn mạch, cánh tay người bệnh duỗi ngang ra, lòng bàn tay ngửa ra ngay ngắn.
 Người thầy thuốc trước hết lấy đầu ngón tay giữa để vào Quan bộ, sau đó đền ngón trỏ để vào Thốn bộ, rồi ngón tay nhẫn để vào Xích bộ, 3 ngón tay đê sát vào nhau. Nếu người bệnh cao lớn hơn bình thường, thì 3 ngón tay nới rộng ra.
 Trẻ em thốn khẩu mạch còn ngắn, chỉ nên dùng một ngón tay chẩn cả 3 bộ mạch. Chẩn cho trẻ dưới 8 tuổi lấy ngón tay cái đặt ở quan bộ, trên 8 tuổi xê dịch ngón cái mà chẩn 3 bộ. Khi chấn, cần dùng sức ngón tay khác nhau để đo mạch.
 Nhẹ tay xem mạch gọilà Phù thủ (lấy nổi) hoặc gọi là Cử; hơi dùng sức là Trung thủ; ấn nặng gọi là Trầm thủ hoặc gọi là Án, có khi cần thay đổi ngón tay tìm kiếm mới thấy được cảm giác rõ ràng, gọi là Tầm.
 1. Mạch thốn khẩu
Ba bộ thốn, quan, xích bên phải bên trái khác nhau. Có thể phân biệt chuẩn xác chứng ở cáctạng phủ khác nhau.
Bên trái: Thốn : Tâm; Quan : Can; Xích : Thận.
Bên phải: Thốn : Phế; Quan : Tỳ; Xích : Thận (Mệnh môn).
(Cách nói Trái : Thận, Phải : Mệnh môn chỉ dùng trong bắt mạch).
2. Ðặc điểm của mạch tượng và chủ bệnh (6 cặp, 12 loại mạch thường gặp)
Dưới đây chủ yếu giới thiệu mạch tượng thường thấy trên lâm sàng. Hiểu biết các đặc điểm của mạch tượng là dựa vào vị trí mạch cao thấp, tần số nhanh chậm, tiết luật mạnh yếu, hình thái to nhỏ của mạch tượng. Bình thường là một lần hô hấp(nhất tức) bình quân mạch nhảy 4 đến 5 lần (đại để tương đương 72 - 80 lần trong một phút), không nổi không chìm, không to không nhỏ, đều đều, hòa hoãn gọi là mạch hoãn. Nhưng nếu bị khí thấp. gây bệnh cũng thấy mạch hoãn. Cũng có thể nhận thấy mạch hoãn kiêm phù, kiêm trầm, kiêm  đại, kiêm tiểu, đó là mạch bệnh.
a. Mạch phù và mạch trầm:
Đặc điểm của hai loại mạch tượng này là ngược nhau về mạch vị cao thấp (H.2).
Mạch phù, mạch vị cao, mới tiếp xúc nhẹ tay đã có cảm giác rõ, dùng sức hơi nặng thì
cảm giác mạch giảm đi.
Mạch trầm, mạch vị thấp, nhè nhẹ tiếp xúc không thấy được hơi công sức cũng không thấy được rõ, cần ấn nặng tay mới thấy.
- Mạch phù chủ bệnh: Biểu chứng
Phù mà có lực: Biểu thực. Phù mà vô lực: Biểu hư. Như bệnh ngoại cảm sợ lạnh, phát
sốt, không có mồ hôi, mạch phù, là biểu hàn thực chứng. Bệnh ngoại cảm phát sốt, ra
mồ hôi, sợ gió, nhược là biểu hàn hư chứng. Những người hư nhược về thể chất, khi có bệnh ngoại cảm thường mạch không phù. Bệnh truyền nhiễm cấp tính sơ kỳ, thường thấy mạch phù.
- Mạch trầm chủ bệnh: Lý chứng.
Trầm mà có lực: Lý thực. Trầm mà vô lực: Lý hư. Như ho hắng mà vô lực, đờm trong,
trăng, ngắn hơi, sắc mặt trắng, ăn ít, mệt mỏi, mạch trầm nhược là phế khí hư, thuộc  lý hư chứng.
b. Mạch trì và mạch sác:
Đặc điểm của hai loại mạch tượng này là ngược nhau về tần số của mạch chuyển nhanh hay chậm
Mạch trì một nhịp thở là 3 lần đập; (nhất tức tam chí), tương đương với 60 lần trong một phút..
Mạch sác thì 1 nhịp thở từ 5 lần trở lên (nhất tức ngũ chí dĩ thượng) tương đương 90 lần trong một phút.
- Mạch trì chủ bệnh: Hàn chứng
Phù mà trì: Biểu hàn. Trầm mà trì: Lý hàn.
Trì hữu lực: Lãnh tích thực chứng; vô lực: Hư hàn,
Như lưng, đầu gối mềm, tảng sáng đau bụng ỉa chảy, lưỡi nhạt, ẩm (nhuận), mạch
trầm, trì vô lực là thận dương hư, lý  hư chứng.
- Mạch sác chủ bệnh: Nhiệt chứng
Sác mà hữu lực: Dương thực. Sác mà tế nhược (nhỏ yếu): âm hư nội nhiệt. Như mặt
đỏ họng khô, trong tâm phiền nhiệt, mạch sác hữu lực lại là tâm hỏa vượng, thuộc
chứng dương thịnh. Miệng loét, lợi sưng, ăn không tiêu, mạch tế, sác là vị âm hư, hư
hỏa thượng viêm, thuộc hư nhiệt.
c. Mạch hư và mạch thực. đặc điểm của hai mạch tượng này là sự tương phản về sức chuyển động mạnh yếu. Mạch hư là lấy mạch ở phù, trung, trầm đều thấy vô lực. Mạch thực là lấy mạch ở phù, trung trầm đều thấy có lực
- Mạch hư chủ bệnh: Khí huyết đều hư. Phù hư là thương thử.
- Mạch thực chủ bệnh: Thực chứng
Sốt cao, cuồng thao không yên, đại tiện táo bón, đều xuất hiện mạch thực. Thực mà
hoạt là ngoan đàm ngưng kết*. Thực mà huyền là can khí uất kết.
d. Mạch hoạt và mạch sáp: Đặc điểm là tương phản về nỗ thái (hình thái của sức mạch).
Mạch hoạt là mạch đi lại rất lưu lợi dưới tay có cảm giác tròn trơn. Mạch sáp là mạch đi lại bị
•   Ngoan đàm ngưng kết đờm không long ra cố kết ở trong tắc trệ, muốn đi mà phải gắng mới đi được, muốn lại mà phải gắng mới lại được.
•   Mạch sáp trên điện tâm đồ có hình tượng ngưng trệ chia gai đường truyền. Ở mạch chuyển đồ cũng có đặc điểm to nhỏ không đều
- Mạch hoạt chủ bệnh: Ðờm thấp, tích trệ.
Như tiếng ho nặng, đục, đờm nhiều mà trắng, dễ văng ra, ngực buồn bẳn, ăn ít, ríu lư-
ỡi trắng nhầy, mạch hoạt là đờm thấp, ho. Người có thai cũng thường thấy có mạch
hoạt.
- Mạch sáp chủ bệnh: Huyết thiếu, huyết ứ, khí trệ.
Người bệnh thiếu máu, trúng gió liệt nửa người, bệnh xơ vữa động mạch tim cũng xuất hiện dạng mạch sáp.
đ. Mạch hồng và mạch tế: Đặc điểm của hai tượng mạch này khác nhau về hình to nhỏ và sức mạnh. Mạch hồng hình to và sức thịnh như nước lũ tràn trề, phù thủ đã thấy rõ ràng.
Mạch tế là mạch nhỏ như sợi chỉ, sức không thịnh, khi ấn ngón tay mới rõ (H.6)
Hình 6. Hình sóng mạch hồng và mạch tế
- Mạch hồng chủ bệnh: Nhiệt thịnh
Như bệnh thấp nhiệt, nhiệt thịnh khí phần, xuất hiện sốt cao, phiền khát, ra mồ hôi
nhiều, mạch hồng đại. Nhiệt thịnh thương âm. Khi âm hư ở trong mà dương ở ngoài
cũng xuất hiện mạch hồng. Các bệnh truyền nhiễm ở đoạn cực độ thường có mạch
hồng.
- Mạch tế chủ bệnh: Thường là chứng hư
Chứng hư tổn, thường thấy mạch tế. Riêng bệnh thấp khí chú xuống khí thấp tà ở
mạch đạo cũng xuất hiện mạch tế nhưng không phải là hư chứng mà là thực chứng.
Nếu sắc mắt trắng bợt, môi lưỡi trắng nhạt, váng đầu hoa mắt, tim hồi hộp, mệt mỏi,
mạch tế là huyết hư. Đại tiện phân như mủ, tinh thần mệt mỏi, ăn ít, bụng chướng,
chân tay không ấm, mạch thường huyền, tế mà hoãn là hàn thấp, ly tật, thuộc hư
chứng.
e. Mạch huyền và mạch khẩn: Đặc điểm của hai mạch tượng này là giống nhau ở chỗ sóng mạch của cả 3 bộ Thốn, Quan, Xích liền làm một hơi. Cảm giác dưới 3 ngón tay như một sợi dây thừng căng chắc. Chỗ khác nhau là mạch huyền giống như là sờ trên sợi dây đàn, mạch khẩn như sờ trên sợi dây thừng kéo căng, mạch nỗ khẩn cấp, ứng vào ngón tay có sức, mạch huyền sức không cấp như loại này. Về hình mạch khẩn thì lớn hơn so với mạch huyền.
- Mạch huyền chủ bệnh: Chứng đau, phong, sốt rét, đàm, ẩm
Âm hư, dương cang thường thấy mạch huyền như cao huyết áp (can đương nhiên
cang hình) mạch thường huyền mà có lực.
Can âm bất túc, mạch huyền tế.
Can vị bất hòa (thấy đau dạ dày, lan sang liên sờn, ợ hơi, dễ cáu) mạch thờng huyền.
Bệnh gan, viêm túi mật, loét tá tràng, kinh nguyệt không đều, ung thư cổ dạ con, bệnh
ở thận tạng đều thấy mạch huyền.
- Mạch khẩn chủ bệnh: Chứng hàn, chứng đau
Ngoại cảm phong hàn thì mạch phù khẩn, lý hàn thì mạch trầm khẩn như: Hàn bại
trong chứng bại, các khớp tay đau đớn dữ dội, nơi đau cố định không chuyển, được
chườm ấm thì giảm đau, mạch thường huyền, khẩn. Khi xơ hóa động mạch cũng có
thể thấy mạch khẩn.
3. Mạch tượng dặc thù
Sau đây giới thiệu 8 mạch tượng có đặc thù cũng thường thấy trên lâm sàng: Súc, kết, đại, nhu, nhược, vi, đại, khâu. Súc kết, đại là 3 loại mạch tượng biểu hiện tiết luật của mạch (nhịp của mạch) không ngay ngắn mà có gian kiệt (lửng nhịp).
a. Mạch súc: Mạch sác mà có nhịp lửng không qui luật, chủ thực nhiệt, khí trệ, huyết ứ.
b. Mạch kết: Mạch hoãn mà có nhịp lửng không quy luật, chủ âm thịnh, khí kết, hàn đàm, huyết ứ.
c. Mạch đại*: Sự nhanh chậm của mách như thường, nhưng có nhịp lửng theo quy luật, nhịp sau nhịp lửng đến hơi chậm, chủ về tạng khí suy vi, hoảng sợ, tổn thương do bị đánh đập; ngoài ra sau khi nôn nhiều, ỉa chảy nhiều, vừa đẻ cũng thấy mạch này. Súc, kết, đại là mạch thấy ở các loại bệnh về tim: Như bệnh thấp tim, xơ vữa mạch vành.
d. Mạch nhu: Mạch tượng phù tiểu mà nhuyễn (nổi, nhỏ mà mềm) như sợi bông trên mặt nước, sờ nhẹ thì thấy ấn nặng thì không thấy. Chủ thấp, chủ hư, như thủy thũng, khí huyết hư nhược.
đ. Mạch nhược: Mạch trầm, tiểu mà nhuyễn (chìm, nhỏ mà mềm). Chủ khí huyết bất túc.
e. Mạch vi. Cực tế, cực nhuyễn (rất nhỏ, rất mềm), tựa như có, tựa như không, khởi lạc mơ hồ. Chủ hư cực. Bệnh lâu ngày mà thấy mạch này là chứng nguy kịch nặng nề.
g. Mạch đại*: Hình mạch hơi to hơn bình thường, nhưng không tràn trề như nước lụt củanhồng mạch. Chủ tà thịnh To mà vô lực là hư chứng.
h. Mạch khâu: mạch phù, mạch to mà khống ở giữa, có hai bên mép mà ở giữa không có như sờ vào ống dọc hành. Chủ đại xuất huyết. Người bần huyết tái sinh cũng thường thấy mạch này.
« Last Edit: July 23, 2007, 07:51:24 AM by lenien »