4. Một số lài liệu hiện đại nghiên cứu về thiệt chẩn
Gần đây tài liệu vận dụng tri thức và phương pháp hiện đại vào nghiên cứu thiệt chẩn Đông y ngày càng nhiều, từ tổ chức học, sinh hóa học, vi sinh vật học và ở các góc độ khác nhau của các bộ môn lâm sàng, người ta đã quan sát về sự biến hóa của thể và chất lưỡi cho thấy nó có liên quan tới nội tại của bệnh tật, và sơ bộ đã rút ra một số quy luật, khái quát làm mẩy điểm để cùng tham khảo.
a. Những nhân tố làm thay đổi thể và chất cái lưỡi
- Màu sắc của chất lưỡi biến hóa và hình thái tuần hoàn máu ở lưỡi có quan hệ mật
thiết. Khi thiếu máu và phù nề ở các tổ chức thì sắc lưỡi biến thành nhạt. Khi sung
huyết hoặc huyết quản tăng sinh thì sắc lưỡi đậm thêm. Xuất huyết hoặc thiếu ôxy đến
mức tăng hoàn nguyên hồng cầu non thì sắc lưỡi xanh tím.
- Chất lưỡi phì nộn chủ yếu là do dưỡng trấp giảm, phù nề ở tổ chức lưỡi tạo thành. Nếu do phù nề hoặc giảm trương lực cơ thì lưỡi to ra hoặc mềm nhẽo, ép vào lợi thì thành ngấn răng.
- - Chất lưỡi khô là do bài tiết nước bọt giảm, hoặc có kèm theo lượng nước trong nước bọt giảm gây ra. Người bệnh âm hư thường có cường giao cảm, thần kinh phó giao cảm bị ức chế làm thay đổi chất và lượng của việc bài tiết nước bọt, làm cho chất lưỡi khô.
- Rãnh nứt trên lưỡi xuất hiện là do nhũ đầu của lưỡi dung hợp tạo thành lỗ rãnh. Có người cho rằng nó có quan hệ với việc niêm mạc lưỡi co rút. Mặt lưỡi sáng bóng là do
niêm mạc trên da lưỡi co rút tạo thành. '
b. Nhân tố của biến hoá rêu lưỡi
- Rêu lưỡi bình thường là do sừng hóa chỏm chót của nhũ đầu và trong lỗ rỗng không
ngừng làm rơi sừng hóa da, ti khuẩn, bột nhỏ của đồ ăn, tế bào thấm xuất cùng với nước bọt cấu thành.
- Rêu lưỡi biến dày là do sau khi bị bệnh, kém ăn, hoạt động của lưỡi giảm bớt ma sát,
hoặc do phát sốt, mất nước, phân bố nước bọt kém, ảnh hưởng đến tác dụng làm sạch của lưỡi đưa đến mớ nhũ đầu dài ra.
- Rêu lưỡi từ trắng biến sang vàng là do mớ nhũ đầu tăng sinh, sừng hóa tăng mạnh, tế bào ẩm ướt, huyết quản giãn to và. chứa lượng khuẩn nhiều gây nên. Nó có quan hệ lớn với chứng viêm nhiễm, phát sốt và công năng tiêu hóa rối loạn.
- Sắc rêu lưỡi biến thành đen là bởi mớ nhú đầu trắng sinh quá nhiều, làm xuất hiện sắc đen trong tế bào sừng hóa và sắc đen độc tố của khuẩn tăng thêm gây nên. Bệnh llúc này đã lan sang tầng dưới của niêm mạc. Sốt cao mất nước, viêm nhiễm, chất độc kích thích, công năng dạ dày và ruột rối loạn, nhiễm độc khuẩn dùng thuốc kháng sinh diện rộng kéo dài đều có quan hệ mật thiết với việc sinh ra rêu lưỡi đen.
c. Chất lưỡi biến hóa và quan hệ của bệnh tật.
- Biến hóa của hình tượng cái lưỡi đều phản ánh sự nặng nhẹ và tiến triển của bệnh
tình. Chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng mỏng, ẩm hay hơi nhẫy, đều
thuộc bệnh tình rất nhẹ. Chất lưỡi hồng sẫm, tím chàm, rêu lưỡi vàng dày, sạm đen,
liềm nhẽo, khô khan, rất khô hoặc sáng sủa không rêu đều thuộc bệnh tình rất nặng.
Ví dụ: Như người bị bỏng, mặt vết bỏng càng lớn, mức thương càng nặng, chất lưỡi
biến hồng càng nhanh, càng rõ ràng, nếu kiêm phát chứng bại huyết, thì chất lưỡi càng hồng sẫm, khô cứng. Do vậy đối với thời kỳ đầu của chứng bại huyết, nó giúp cho sự chẩn đoán.
- Viêm gan siêu vi trùng, số người rêu lưỡi mỏng là rất nhiều, trắng nhẫy hoặc trắng dầy có ít. Bệnh tật có xu hướng khỏi, thì rêu lưỡi khôi phục, hoặc gần như bình thường.
Bệnh tình tái diễn, thì biểu hiện rêu lưỡi kéo dài không lui. Do đó, ý nghĩa rêu lưỡi ở
trong chẩn đoán bệnh tật cũng có giá trị tham khảo.
- Một số biến hóa của lưỡi có ý nghĩa đặc thù về triệu chứng nhẹ, nặng của bệnh. Viêm nhiễm, khối u ác tính, ba-dơ-đô, can, phế, thận có bệnh nặng về thực chất cơ quan thường thấy lưỡi âm hư. Chất lưỡi của số bệnh này là hồng sẫm, thân lưỡi gầy nhỏ, khô mà có rãnh nứt, rêu sáng xanh, ven đầu lưỡi có gai hồng. Cuối kỳ, toàn bộ lưỡi sáng như gương. Chất lưỡi của bệnh gan xơ hóa nhẹ, thường là hồng nhạt, rêu lưỡi trắng' mỏng hoặc vàng mỏng. Tuần hoàn ở mỏm tĩnh mạch bị trở ngại thì chất lưỡi chuyển sang tím, thể lưỡi trương to, tĩnh mạch dưới lưỡi trương to từng khúc. Rêu lưỡi từ trắng mỏng chuyển sang sáng xanh thường biểu hiện công năng của gan rối loạn.
Quan sát biến hóa ở lưỡi, có thể giúp cho sớm phát hiện hôn mê gan. Người bị viêm
gan nặng chất lưỡi thường hồng thắm, khô khan, ít nước; khi bệnh tình chuyển biến
xấu càng thấy rõ ràng, rêu lưỡi dày, nhiều nhầy mà khô, sắc vàng hoặc đen cũng có khi sáng sủa không rêu.
- Người ung thư mũi ở thời kỳ cuối mới thấy xuất hiện hiện tượng lưỡi hồng, sáng sủa
không rêu, có khi lại mọc mụn nhọt ra ngoài.
C. Xem văn ngón tay trẻ em (chỉ văn)
Văn ngón tay là tĩnh mạch nhỏ nổi ở mặt ngoài ngón tay trỏ (phía xương quay). Trẻ em mới đẻ, da dẻ mềm, mỏng, tĩnh mạch dễ bộc lộ, văn trên ngón tay rất dễ nhận biết, sau đó tùy theo tuổi lớn da dày thêm, văn tay mờ dần. ở mức độ nhất định, văn ngón tay có thể phản ảnh tính chất và mức độ nặng nhẹ của bệnh biến. Trẻ em mạch bộ ngắn, nhỏ, khi có bệnh luôn kêu khóc đã ảnh hưởng đến tính chân thực của mạch tượng, cho nên lâm sàng nhi khoa đối với trẻ em dưới 3 tuổi thường dùng cách xem văn tay giúp cho thiết chẩn.
Xem văn ngón tay, chủ yếu là xem màu sắc và độ chứa đựng máu của tĩnh mạch nổi. Chia ngón tay trỏ ra làm 3 phần. Ðốt 1 gọi là phong quan, đốt 2 gọi là khí quan, đốt 3 gọi là mệnh quan. Khi xem, người thày thuốc đưa ngón tay trẻ ra chỗ sáng, lấy ngón tay cái và ngón trỏ tay trái của mình nắm lấy đầu chót ngón trỏ của đứa trẻ, dùng ngón trỏ cái tay phải vuốt nhẹ trên ngón trỏ của đứa trẻ về phía lòng bàn tay vài lần để văn tay nổi rõ rồi mới xem.
Chỉ văn bình thường có màu tím nhạt mà tươi sáng, nhất thiết không vượt quá phong quan. Khi có bệnh, độ chứa đựng máu và màu sắc của văn biến hóa như sau:
- Chỉ văn rất nổi là biểu chứng.
- Chỉ văn chìm là bệnh tại lý
- Chỉ văn sắc nhạt là hư chứng, hàn chứng.
- Chỉ văn sắc xanh là phong hàn, hoặc kinh phong, hoặc đau đớn, hoặc thương thực,
hoặc đàm khí ngược lên.
- Chỉ văn sắc đen là ứ huyết.
- Chỉ văn uất trệ (động đến mà máu không lưu thư) là đàm thấp, thực trệ hoặc tà nhiệt
uất kết, thực chứng.
Về vị trí mà nói, chỉ văn hiện ở phong quan là bệnh tình còn nhẹ và nông. Vươn dài qua đến khí quan là bệnh tinh đã nặng. Vươn dài qua mệnh quan tới tận đầu mút ngón tay là "thấu quan xạ giáp" thì bệnh tình đã nguy ngập.
Tóm lại: Chỉ văn thể hiện
Phù, trầm là biểu lý
Hồng, tím là hàn nhiệt.
Nhạt trệ là hư thực.
Tam quan là nặng nhẹ.
Một số tài liệu hiện đại nghiên cứu về chỉ văn nói chung đã cho rằng chỉ văn biến hóa độ chứa đựng máu, chủ yếu quan hệ với tĩnh mạch áp ở trẻ dều hướng ra đầu ngón tay mà vơn tới. Mầu đậm của chỉ văn ở em. Bệnh tâm lực suy kiệt, viêm phổi, đại đa số thấy chỉ văn vươn tới mệnh quan, đó là do tĩnh mạch áp gây ra. Tĩnh mạch áp càng cao độ chứa đựng máu chỉ văn càng lớn, đều hướng ra đầu ngón tay mà vươn tới. Mầu đậm của chỉ văn ở mức độ khác nhau, phản ánh trình độ thiếu khí trong cơ thể. Thiếu khí càng nhiều thì lượng hồng cầu non hoàn nguyên trong máu càng cao, màu xanh tím của chỉ văn cũng rõ thêm. Trẻ em bần huyết, do hồng cầu và hồng cầu non giảm, chỉ văn nhạt đi.