VỌNG CHẨN (NHÌN)
Vọng chẩn là thông qua quan sát thần, sắc, hình thái để nói tình trạng chung; thông chua xem lưỡi biến hóa để nói thêm một bước tính chất của bệnh tật. Trẻ em dưới 3 tuổi lại xem đường văn ngón tay để bổ trợ cho chẩn đoán..
A. Trạng thái chung
1. Tinh thần nét mặt
Tinh thần ủ dột, ánh mắt không có thần, phản ứng tình cảm trên nét mặt chậm, sắc mặt mờ tối không phản chiếu ánh sáng là biểu hiện chính khí đã tổn thương.
Sắc mặt khô xác, môi nhợt là huyết hư. Sắc mặt vàng úa là tỳ hư. Bệnh lâu dài sắc mặt tối đen là thận hư. Hai gò má ửng hồng về chiều, sốt về chiều là âm hư nội nhiệt.
Trẻ em mắt đỏ mà chung quanh môi màu xanh là can phong. ở trong các bệnh: Sắc cứ sáng tươi là bệnh còn nhẹ, mờ tối là bệnh đã nặng. Trẻ em bệnh ôn nhiệt hoặc cấp, mạn kinh phong thấy nhãn cầu vận động không linh hoạt, có khi cố định, nhìn trợn ngược, nhìn thẳng đơ, nhìn lệch là thuộc can phong nội động, hoặc đàm nhiệt vướng tắc gây ra, đó là chứng kinh phong. Trẻ em mắc bệnh mà khóc không có nước mắt, lỗ mũi khô mà không có nước mũi, là chứng nặng. Sắc mũi trắng bợt là
khí huyết hư nhiệt.
2. Hình thái
Hình thể gầy mòn, chi thể mỏi mệt, da dẻ khô khan là khí huyết hư nhược. Nếu béo mà ăn ít là tỳ hư có đàm. Hình gầy ăn ít là trung tiêu có hỏa.
Da dẻ toàn thân và niêm mạc phát vàng là hoàng đản. Sắc vàng úa, tươi như da quất, phát sốt là dương hoàng (cấp tính hoàng đản); sắc vàng nhạt, mờ như khói hun, không sốt hoặc sốt nhẹ là âm hoàng (mạn tính).
Toàn thân phù thũng, phát bệnh nhanh chóng, các'khớp đau buốt, hoặc có ớn lạnh, sợ gió là thủy khí nội đình, phong tà ở ngoài nhiễu. Mình nặng, tinh thần đặc biệt khốn quẫn là thấp nặng.
Đau lưng, chi lạnh, sắc mặt tối là thận dương hư. Ch i dưới phù thũng, sắc mặt vàng
úa, ăn uống không ngon, bụng trướng, phân lỏng, nát là tỳ dương hư.
Da dẻ xuất hiện ban chẩn (lốm đốm là chẩn, thành mảng là ban) là nội nhiệt, ở trong bệnh ôn nhiệt thì đó là dấu hiệu chủ yếu chỉ nhiệt đã nhập huyết phần. Ban chẩn sắc tươi sáng, đỏ tươi là bệnh tình còn nhẹ, mờ ám là bệnh tình đã nặng.
3. Phụ: Phép vọng chẩn về bệnh giun đũa.
Dùng phép vọng chẩn để chẩn đoán bệnh giun đũa thời xa xa đã được ghi lại, gần đây có người quan sát hơn một nghìn trường hợp trẻ em bị bệnh giun đũa đã chứng minh các phương pháp chẩn đoán là có ý nghĩa nhất định. Trẻ em bị bệnh giun đũa thể hiện như sau:
- Trên mặt lưỡi xuất hiện ban đỏ, ven bờ rõ nét, hình tròn thường lồi,khỏi mặt lưỡi như
đầu vú, nơi chốn không nhẩt định, số lượng không kể.
- Niêm mạc môi dưới xuất hiện những hạt tròn, thường là màu xám, nốt chẩm nhỏ như đầu mũi kim, số lượng không kể.
- Củng mạc xuất hiện ban xanh chàm, hình tam giác, tròn hoặc bán nguyệt, phân bố ở
mạch lưới trên đỉnh mao mạch (huyết quản nhỏ) không lồi khỏi bề mặt.
- Trên mặt lưỡi xuất hiện ban trắng, hình tròn, rất rõ ràng, ở giữa trắng nhạt, không lồi
khỏi bề mặt.
Đây là bốn loại dương tính thể chứng, có khi đơn độc hoặc cùng xuất hiện, thường thấy nhất là ban đỏ trên lưỡi. Thể chứng ít, nhiễu thường là bằng chứng của số lượng giun nhiều ít ở trong bụng. Tỷ lệ đúng của vọng chẩn so với xét nghiệm phân (bao gồm cả phép đếm trứng) là rất cao.
Cách này không cần chuẩn bị khác, giản tiện, sử dụng chắc chắn.
B. Thiệt chẩn (xem lưỡi)
Thiệt chẩn là bộ phận trọng yếu trong chẩn đoán Ðông y. Đông y quan sát cái lưỡi thật tỷ mỷ, từ trong thiệt chẩn mà tìm thấy thực hư của tạng phủ, thịnh suy của khí huyết, hao tổn của tân dịch và tính chất của ngoại tà. Do đó ở một mức độ nhất định có thể giúp cho phán đoán tính chất, mức nông sâu và hướng phát triển của bệnh tật.
1. Chất lưỡi
Chất lưỡi là chỉ cái thể của lưỡi, nó cùng với các tạng phủ có quan hệ mật thiết. Loại quan hệ này có đặc điểm ở từng chỗ khác nhau. Đầu lưỡi chủ về phản ánh bệnh biến của tim phổi, như đầu lưỡi đỏ là tâm hỏa thượng viêm. Ven lưỡi chủ về phản ánh bệnh biến của gan mật, như ven lưỡi có ban tím là can uất (trên lâm sàng thường thấy một số người bệnh gan thì ven lưỡi có điểm ban xanh tím, hoặc tĩnh mạch dưới lưỡi trương phồng).
Phần giữa lưỡi chủ yếu phản ánh bệnh biến tỳ vị. Cuống lưỡi chủ yếu phản ánh bệnh biến của thận.
Trên lâm sàng, quan sát chất lưỡi và theo biến hóa 4 mặt: Màu sắc độ ẩm thấp, hình thái và động thái để phân tích.
- - Độ ẩm thấp và màu sắc chính của lưỡi thường là: hồng nhạt và ẩm nước.
- Sắc lưỡi nhạt hơn bình thường là huyết hư, dương hư hoặc hàn chứng. Sắc nhạt mà không rêu là khí huyết lưỡng hư; nhạt mà ẩm trơn là hàn. Loại sắc lưỡi này gọi là lưỡi trắng nhạt, tức là hồng ít, trắng nhiều. Chứng bệnh là dinh dưỡng trở ngại, bần huyết và một số bệnh nội tiết như phù niêm dịch (dịch dẻo dính) đều thấy lưỡi trắng nhạt.
- Sắc lưỡi hồng tươi mà khô là âm hư. Hồng tươi mà không rêu là âm hư hỏa vượng ở
cuối kỳ ôn nhiệt, lao phổi: Cường năng tuyến giáp trạng và bệnh đái đường cũng thấy lưỡi âm hư. Chất lưỡi màu hồng thắm hoặc đỏ thẫm thuộc về thực nhiệt.
Nói tóm lại:
Đậm là nhiệt sâu. Khi bị bệnh truyền nhiễm cấp tính quá nặng hoặc khi viêm nhiễm đưa đến nhiễm độc máu đều thấy lưỡi đỏ sẫm. Lưỡi đỏ sẫm là dấu hiệu chủ yếu từ khí phần chuyển sang doanh phần trong bệnh ôn nhiệt. Ðỏ sẫm mà sinh gai nhọn là doanh phần nhiệt thịnh. Đỏ sẫm mà sắc tươi là nhiệt thương tâm bào lạc. Chứng bại huyết và khi bị bệnh cấp tính viêm nhiễm nghiêm trọng cũng cùng thấy lưỡi đờ sẫm. Lưỡi đỏ mà bóng, không rêu là vị âm mất đi, bệnh tình nguy ngập.
- Sắc lưỡi từ đỏ sẫm chuyển sang đỏ tím mà khô là dấu hiệu chính để chỉ bệnh ôn nhiệt phát triển đến huyết phần. Viêm nhiễm nặng khi phát triển đến suy hô hấp và tuần hoàn cùng xuất hiện lưỡi tím. Tím mờ là huyết ứ tím nóng mà ẩm là hàn chứng.
- Lưỡi xanh lam là chứng nặng của khí huyết cùng suy thoái. Xanh mà sáng bóng, không rêu là dự đoán sẽ xấu. Khi hô hấp tuần hoàn suy kiệt, thiếu ôxy nặng, cũng xuất hiện lưỡi xanh.
2. Hình thái và động thái của lưỡi
Chủ yếu là quan sát các tình trạng thực lưỡi béo, gầy, già, non,khô, ẩm, rãnh nứt và hoạt động.
Dáng lưỡi béo mập, hồng nhạt mà ven lưỡi có ngấn răng là hư chứng, hàn chứng. Lưỡi to béo là chứng suy tuyến giáp, đầu chi phình to. Lưỡi to béo mà đỏ sẫm là tâm tỳ có nhiệt.
Dáng lưỡi gầy mỏng, hồng nhạt là khí huyết bất túc. Gầy mỏng mà đỏ sám là tân dịch đã tổn thương. Chất lưỡi rắn chắc, thô kệch (ngược với béo mập) là thuộc thực chứng, nhiệt chứng.
Trên lưỡi mọc gai nhọn là nhiệt cực nội kết, gai nhọn càng to, càng nhiều là nhiệt kết càng sâu. Sốt cao, tinh hồng nhiệt (sốt đỏ mặt như con tinh tinh), viêm phổi chứng nặng đều thấy trên lưỡi mọc gai.
Trên lưỡi có vết nứt thường là âm hư hay dinh dưỡng kém, nhưng sốt cao mất nước cũng thấy lưỡi nứt. Cá biệt có khi lưỡi nứt là tiên thiên tính.
Dáng lưỡi khi co duỗi thì rung động, sắc lưỡi hồng nhạt là dương khí bất túc, chứng này thấy ở bệnh thần kinh suy nhược và thể hư sau khi khỏi ốm. Rung động mà sắc lưỡi hồng tươi là âm hư, thường thấy ở can phong nội động, trúng gió và cường tuyến giáp.
Lưỡi lè ra mà lệch thường là chứng trúng gió.
Lưỡi cứng, vận động khó khăn, vì vậy mà tiếng nói không rõ là can phong nội động gây ra, thường là điềm báo trước chứng trúng gió hoặc là di chứng sau khi trúng gió.
Lưỡi mềm yếu vô lực cũng phát sinh ở tình hình bệnh khác nhau. Lưỡi hồng, khô mà yếu là nhiệt thịnh thương âm. Bệnh lâu ngày chất lưỡi trắng nhạt mà yếu là khí huyết đều hư.
Lưỡi đỏ sẫm mà yếu là âm hao đã cực.
3. Rêu lưỡi
Rêu lưỡi bình thường do vị khí hình thành thì trắng, mỏng, sáng và ẩm. Khi có bệnh rêu lưỡi phát sinh các loại biến hóa. Lúc chẩn đoán, quan sát rêu lưỡi chủ yếu là theo màu sắc, tân dịch, dầy mỏng. Nhưng cần chú y l oại trừ hiện tượng giả do ăn uống, hoặc do thuốc gây nên như ăn trầu, ô mai, đậu đen...
- Rêu trắng đều thuộc hàn chứng, hư chứng (cũng có thuộc nhiệt, thuộc thực). Trắng mỏng mà trơn là ngoại cảm phong hàn. Trắng nõn mà trơn là lý hư hàn. Trắng nhẫy mà nhẵn là trong có đàm thấp. Trắng như rắc phấn là bệnh ôn dịch. Trong bệnh nhiệt, rêu lưỡi trắng có lẫn vàng là bệnh tà hỏa nhiệt từ biếu vào lý, chứng tỏ bệnh tình đang phát triển.
- Rêu vàng thuộc nhiệt chứng, sắc vàng càng sâu nhiệt càng nặng, rêu mỏng hơi vàng là ngoại cảm phong nhiệt. Vàng dầy mà khô là vị nhiệt thương âm, vàng mà dầy nhẵn là tỳ vị thấp nhiệt hoặc tỳ vị tích trệ. Sắc vàng nhạt mà ẩm hoặc kèm theo dầy, rêu đục là do thấp trệ gây ra.
- Rêu đen thường thuộc lý chứng, nói chung thể hiện bệnh tình rất nặng, nhưng có chia ra hàn nhiệt. lêu lưỡi đen, ẩm trơn, chất lưỡi hồng nhạt là hàn chứng. Rêu lưỡi đen, khô ráo, chất lưỡi hồng tươi là hỏa nhiệt thương âm. Rêu lưỡi đen mà táo là hỏa thịnh tân khô. Rêu đen khô nứt, gai nhọn cao lên là thận thủy tưởng tuyệt, bệnh tình nguy nặng.
- Rêu lưỡi từ đầy chuyển thành mỏng, mặt lưỡi sáng trơn như gương, hoặc rêu lưỡi rải
rác có chỗ xanh là tân dịch hao tổn, âm hư thủy khô, bệnh tình nghiêm trọng. Những
người bệnh thiếu máu ác tính, trẻ em trường vị có thấp nhiệt hoặc có ký sinh trùng
cũng thấy có rêu lưỡi trắng mỏng hoặc hơi vàng, lại cùng có rải rác rêu xanh. Nguyên
nhân của rải rác rêu xanh, là cục bộ niêm mạc co rút tạo ra niêm mạc chết mà thành.
Tóm lại, rêu lưỡi từ trắng biến thành vàng, xong chuyển thành rêu trắng mới là thuận chứng.
Rêu lưỡi lừ trắng chuyển thành vàng, rồi chuyển thành đen là nghịch chứng. Rêu lưỡi
chuyển biến nhanh cũng thể hiện bệnh tình ác hóa.
Trên đây giới thiệu chất lưỡi và rêu lưỡi chỉ để học tập. Trên thực tế thiệt chẩn là quan sát toàn bộ cái lưỡi theo hiện tượng, tất nhiên cần quan sát toàn bộ chất lưỡi và rêu lưỡi kết hợp lại mà phân tích, bởi vì biến hóa của chất lưỡi'và rêu lưỡi có quan hệ hỗ tương phức tạp.
Tổng hợp quan hệ biến hóa của chất lưỡi và rêu lưỡi với bệnh chứng đại để là: Phàm thuộc nhiệt chứng, chất lưỡi tất hồng, rêu lưỡi tất vàng. Phàm thuộc hàn chứng, chất lưỡi tất nhạt, rêu lưỡi tất nhiễu nước mà trơn. Phàm thuộc thực chứng, thể lưỡi tất rắn chắc.
Phàm, thuộc hư chứng, thể lưỡi tất phì nộn (béo non). Phàm thuộc biểu chứng, rêu lưỡi trắng mỏng, không khô. Khí bệnh chủ yếu biến hóa ở rêu lưỡi. Huyết bệnh chủ yếu biến hóa ở chất lưỡi.
Để tiện nắm được thiệt chẩn, nay đem chất và rêu lưỡi kê thành bảng dưới đây theo biến hoá thường thấy và kết hợp với biện chứng luận trị. Bảng 2.
Bảng 2 - Thiệt chẩn và biện chứng luận trị.
Chất lưỡi Rêu lưỡi Biện chứng
Hồng nhạt Trắng rất mỏng Khí huyết hư
Hồng nhạt, béo non,ngấn răng Trắng mỏng Dương hư
Trắng nhạt, béo non Xám đen, ẩm trơn, sáng nhẵn
Dương suy tạng hàn, đàm thấp đình ở trong
Hồng nhạt nõn nà, có vết nứt
Không rêu Khí hư âm hao
Hồng nhạt Trắng mỏng, ẩm Ngoại cảm phong hàn
Hồng nhạt Trắng, dầy, trơn Đàm ẩm thấp trọc nội đình hoặc ăn không tiêu
Hồng nhạt Trắng dày như rắc phấn Ôn dịch hoặc có ung bên trong
Hồng nhạt Trong cái trắng có ít vàng Biểu tà bắt đầu chuyểnvào lLÝ
Hồng nhạtGiữa và gốc lưỡi vàng dầy, ven lưỡi trắng mỏng mà ẩm
Biểu tà nhập LÝ, vị trường có nhiệt
Hồng tươi Trắng cực mỏng Âm hư hỏa vượng
Hồng, nhiều vết nứt sâu Gần như không rêu Thủy bất tế hỏa hoặc chân âm hao tổn
Hồng Vàng mỏng Khí phần nhiệt thịnh hoắc trường có vị nhiệt
Hồng Vàng trơn Thấp nhiệt nhập khí phần
Hồng Vàng dày khô Tà nhiệt thâm nhập, LÝ kếtđã thành
Hồng Đen khô Hỏa nhiệt thương âm
Đỏ sẫm Vàng úa Nhiệt đã theo khí vàodoanh
Đỏ tím Vàng sâu hoặc vàng, vàng trắng mà khô ít rêu hoặc không rêu
Nhiệt vào phần huyết
Xanh tím Trắng ẩm Nội hàn cực nặng, xuất huyết ứ trệ